Công Thức Tính
Số Thập Phân Của Hằng Số ln2
(ln2 = 0,69314718055994530941723212…)
Hàm
số Lôgarit là hàm ngược của hàm số mũ [1*]. Trong toán học có những lúc phải đối diện với việc tính toán
những con số rất lớn và việc tính toán sẽ gặp khó khăn. Chính vì lẽ đó mà Lôgarit đã ra
đời. Theo lịch sử toán học, người
phát minh ra phương pháp Lôgarit đầu tiên là ông Joost Burgi ngưòi Thụy sĩ
nhưng ông không xuất bản. Người
xuất bản nó lại là John Napier người Scotland. Phần lớn Lôgarit dùng bấy giờ theo cơ số 10. Từ khi môn Giải tích hình thành thì
Logarit tự nhiên ký hiệu ln (hay log đối với một số nước khác) với cơ số e tự
nhiên có giá trị gần bằng 2,71828…
Cơ số tự nhiên e sau này là hằng số e trong toán học và người ta đã
chứng minh giá trị của nó vừa là số vô tỷ và là số siêu việt. Lôgarit tự nhiên
đóng vai trò rất quan trọng trong toán học. Nó hình thành rất nhiều công thức trong tích phân, vi phân,
các phương trình vật lý, hoá học, điện và các ngành khoa học khác. Dựa vào tính chất của cơ số e mà người ta
đã chứng minh rằng Lôgarit tự nhiên của bất kỳ số nào, ví dụ như ln2, ln3, ln7,
…, cũng đều là số vô tỷ và là số siêu việt! Như vậy những số thập phân của Lôgarit tự nhiên cũng cần chú
ý không khác chi các số thập phân của hằng số Pi. Muốn tính chính xác được số thập phân của Lôgarit tự nhiên
của số nào đó, ví dụ như ln2, người ta phải đi tìm các công thức có các cấu
trúc đặc biệt của dãy số sao cho nó hội tụ về số đó rất nhanh và chính xác với
nhiều số thập phân.
Cũng
giống như hằng số Pi, Lôgarit của những số nguyên cũng được chú ý từ khi khoa
Giải Tích được hình thành. Để đi
tìm công thức có cấu trúc đặc biệt tính các số thập phân của Lôgarit các sô
nguyên hay thực, người ta cần định nghĩa hàm số Lôgarit theo Giải tích như sau:
.
Từ
định nghĩa trên và áp dụng cách triển khai của Taylor trong Giải tích, công
thức tính ln2 được biểu diễn theo dạng dãy số là:
(biểu
thức này không đúng cho giá trị x = -1)
Công
thức trên đã được nhà toán học Nicolas Mercator người Đức tìm ra vào năm
1668. Công thức này cũng giống như
công thức hàm ngược
(hay
arctan x) dùng để tính Pi của Leibniz người Đức khám phá ra năm 1646, xem
bài Pi. Khi ta thế giá trị x =
1, ta tìm được ln2 ở dạng dãy số như sau:

Với
biểu thức trên khi ta cho k lên tới 1000, thì giá trị chính xác tính được của
ln2 chỉ đúng có hai con số thập phân vì tổng các con số khi cộng lại của dãy số
này hội tụ về ln2 rất chậm. Người
ta mới đi tìm các dạng dãy số khác sao cho khi k bằng 1 hoặc bằng 2 mà đã tính
được ln2 chính xác tới bảy hay tám số thập phân rồi. Phần này sẽ bàn tiếp trong phần công thức có dạng BBP dưới
đây. Để tiếp phần trên nếu ta cho
x = -1/2, thì biểu thức dãy số hội tụ về ln2 có phần nhanh hơn vì có cơ số 2
hiện hữu ở mẫu số trong biểu thức dưới đây:
(Dùng
phương pháp tính thông thường thì giá trị chính xác của ln2 thu được 13 số thập
phân khi cho k từ 1 tới 40).
Cũng
giống như trường hợp tính Pi, người ta cũng tìm ra được các công thức Machin để
tính ln2. Thay vì dùng hàm ngược
, thì người dùng hàm ngược
hyperbolic
(hay
arctanh x). Sau đây
là một ví dụ về công thức Machin:
![]()
Ta
kết hợp với công thức Machin và công thức triển khai Taylor, ta có thể tính giá
trị ln2 chính xác rất nhiều số thập phân. Vì các cơ số trong biểu thức Machin
này khá lớn đã làm cho sự hội tụ của dãy số về ln2 rất nhanh khi k tiến từ 1
đến số lớn.
Phần
trình bày ở trên là cách mà các nhà toán học dùng để tính các số thập phân của
những hằng số Logarit của các số nguyên từ khi Lôgarit ra đời đến gần đây. Người ta thường để ý đến các công thức
dãy số mà chỉ có chứa các số nguyên thì càng tốt trong việc tính các số thập
phân của hằng số. Người ta không
thích các dãy số có chứa các hằng số khác trong biểu thức đi chung với k vì sẽ
làm việc tính toán sẽ bị sai lệch và không chính xác vì lẽ họ phải tính thêm
hằng số phụ. Khi mà công thức BBP
tính Pi ra đời, thì lập tức các dạng công thức BBP cho các hằng số ln2 hay các
hằng số khác cũng được tìm thấy.
Điểm mấu chốt của các công thức dạng BBP là không phải nhớ các giá trị
đã tính trước đó để cộng với giá trị hiện có khi mà k đang xê dịch từ vị trí k
ban đầu cho đến các giá trị lớn khác sau đó. Hiện nay người ta đã tìm ra cũng khá nhiều các công thức dãy
số cho các hằng số thuộc dạng BBP.
Gần đây nhà toán học Baley đã tìm thấy công thức ln2 có “sức hội tụ” rất
nhanh, ấy là:
![]()
Một
công thức khác tìm thấy [2*] có liên quan tới ln2:
.
Tại
website (2*) có công thức tính ln2:
.
Cũng
tại website [3*] này, có một công thức cho ln2 được tìm thấy với các cơ số của
các số hạng trong dãy số rất lớn và dãy số hội tụ về ln2 cực nhanh. Công thức đó là:
![]()

![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
.
Chú ý cơ số

Công thức trên khi cho k = 0 cũng cho chính xác của ln2 đến mấy chục con số thập phân. Bây giờ thử “nhẩm” cho k = 1 và quan sát xem có bao nhiêu số thập phân của ln2 chính xác thêm nữa.
Ngày 21 tháng 11 năm 2006.
[1*] Người ta gọi các hàm số sau đây là các hàm số sơ cấp cơ bản:
Hàm
số hằng:
(R thuộc về tập hợp số thực).
Hàm
số lũy thừa: ![]()
Hàm
số mũ: ![]()
Hàm
số logarit: ![]()
Hàm số lượng giác: y = cosx, y = sin x, y = tg x (hay dùng ký hiệu y=tan x), y = cotg x (hay y = cot x).
Hàm số lượng giác ngược: y = arcos x, y = arcsin x, y = arctg x, y = arccotg x.
Hàm số sơ cấp là hàm số cho bởi một công thức duy nhất y = f(x) với f(x) là tổng, hiệu, tích, thuơng hoặc hợp của một số hữu hạn các hàm số sơ cấp cơ bản khác.
[2*] Tham khảo đường
dẫn này http://numbers.computation.free.fr/Constants/constants.html
[3*] Xem đường dẫn: www.seriesmathstudy.com và http://www.seriesmathstudy.com/log2.htm
Mọi ý kiến xây dựng và bài vở xin liên lạc dothi@seriesmathstudy.com.
Copyright 2005- http://toantructuyen.seriesmathstudy.com. All rights reserved.
Contact us.
Ghi rõ nguồn "http://toantructuyen.seriesmathstudy.com" khi bạn đăng
lại thông tin từ website này.