Công Thức Tính Số Thập Phân Của Hằng Số Pi
(
= 3,14159265358979323846264338327950288419716…)
Hằng số Pi, được kư hiệu trong toán học
là
[1*], nó được xác định bởi
chu vi đường tṛn chia cho đường kính của
đường tṛn đó. Thoạt nh́n con số Pi tính
được từ đường tṛn, ta tưởng
nó cũng giống như những con số b́nh thường
khác nhưng khi khảo sát sâu vào số thập phân th́ nó là
con số kỳ bí đấy! Ngày nay người ta biết
hằng số Pi là số vô tỷ và c̣n là một con số
siêu việt v́ nó không là nghiệm của bất kỳ một
phương tŕnh toán học đại số nào hoặc nó
cũng không thể lấy từ phân số của các số
nguyên hay tự nhiên tác tạo thành. Những con số thập
phân của Pi đă được tính chính xác tới hàng tỷ
con số. Nhưng điều kỳ diệu là sự
phân bố của những con số thập phân đó không
theo bất kỳ một dạng chuỗi hay dăy số
đặc biệt nào đă được biết trong
toán học, và cho đến ngày nay người ta vẫn
chưa thấy có khoảng chuỗi các con số lặp lại
của những số thập phân trong hàng tỷ con số
đă tính được đó. Liệu những con số
thập phân tiếp theo của những dăy số đă biết
đến một lúc nào đó có rơi vào một chu kỳ
tuần hoàn không? Vẫn c̣n bí ẩn! Mục đích
để tính tới hàng tỷ con số thập phân của
Pi vẫn chưa được thẩm thấu rơ ràng, và ứng
dụng của nó vào thực tiễn vẫn chưa có xu
hướng. Nhưng dù sao các nhà toán học vẫn
đi t́m kiếm để hiểu cấu trúc bên trong của
những số thập phân của Pi. Sự t́m hiểu
về Pi dẫn đến có những sự khám phá lư thú
khác trong toán học. Đó là phát triển các mô h́nh toán học
mà ngày nay gọi là tân toán học dùng trong nhiều ứng dụng
khoa học khác và đồng thời cũng áp dụng
để tính hằng số Pi. Hằng số Pi hầu
như có mặt khắp nơi trong cấu trúc thiên nhiên
như các tinh tú trong vũ trụ, trong cầu vồng,
đồng tử trong mắt, những chuỗi soắn
kép trong DNA, các biểu thức chuỗi số trong toán học
và vân vân.
Ngược ḍng thời gian, hằng số Pi được
các nhà toán học người Babylonian biết đến
vào thế kỷ 19 trước Công nguyên và họ dùng giá trị
Pi bằng 3,125. Trong kinh thánh Thiên Chúa giáo có đoạn
ghi giá trị của Pi gần bằng 3. Nhà bác học
đại tài cổ đại Archimedes, người
Hy lạp, đă dùng đa giác đều nội tiếp
đường tṛn trong khoa h́nh học đă xác định
được giá trị chính xác của hằng số Pi
rơi vào trong khoảng 223/71 và 22/7, hay trung b́nh cộng của
hai con số này gần bằng 3,1419 - chính xác tới 3 con số
thập phân. Vào năm 263 trước Công nguyên, nhà toán
học Liu Hui Trung quốc đă tính ra giá trị của
Pi là 3,141014 – chính xác tới 3 con số thập phân.
Đầu thế kỷ thứ năm sau Công nguyên, nhà toán
học Aryabhata người Ấn đă tính con số
Pi bằng 3,1416, và con số này khá chính xác hơn so với Liu
Hui t́m trước đó hơn bảy thế kỷ
đă trôi qua! Rồi cũng trong thế kỷ thứ
năm, một nhà toán học Zu Chongzhi Trung quốc đă
đưa ra giá trị của Pi nằm trong khoảng
3,1415926 và 3,1415927, một sự chính xác bất ngờ tới
7 con số! Sau đó măi đến thế kỷ 14, nhà
toán học khác tên Madhava người Ấn độ
đă đưa ra tới 11 con số thập phân chính xác, ấy
là 3,14159265359. Sự t́ṃ hiểu của con người
về Pi không dừng ở đó, vào năm 1646 nhà toán học
Leibniz người Đức đă đưa ra công thức
tính Pi rất kỳ dị, đó là:
(công thức Leibniz)
Cũng có một số tài liệu nói công thức trên là
do Jame Gregory khám phá ra trước. Nếu ta cho giá
trị x = 1 thế vào biểu thức trên, ta thu được
biểu thức chuỗi số:
![]()
Điều hết sức ngạc nhiên là người
ta thấy Pi trong trường hợp này có liên quan tới
các con số nguyên như 1, 3, 5, 7,…, mà trước đó các
nhà toán học cho rằng Pi chỉ tồn tại trong h́nh học.
Mặc dù biểu thức trên với giá trị của nó hội
tụ về Pi rất chậm nhưng nó đă mở ra kỷ
nguyên một phương pháp mới tính Pi hết sức
thú vị. Phương pháp này được dùng cho
đến ngày nay và nó phải dùng kèm với các công thức
liên quan tới hàm ngược của tan khác, được
kư hiệu
, c̣n gọi
là công thức Machin, sẽ nói tới phần kế tiếp.
Với biểu thức chuỗi thu được ở
trên, ta cộng trừ khoảng chừng một ngàn con số
đầu tiên ta chỉ tính chính xác giá trị Pi tới vài
con số thập phân thật khiêm tốn.
Vào đầu thế kỷ 17, John Machin người Anh, đă t́m ra đuợc công thức:
.
Sau này người ta gọi là dạng Machin. Kết
hợp công thức Machin này với công thức mà Leibniz
đă t́m ra trước đó th́ giá trị Pi đă
được Sharp tính chính xác tới 71 con số thập
phân. Lư do là cơ số 5 và 239 tương đối lớn
và khi chúng được lũy thừa k với giá trị
k tăng dần đă làm chuỗi số hội tụ về
Pi nhanh hơn. Sau đó công thức này cũng được
Machin dùng để tính chính xác tới 100 con số thập
phân của Pi. Đến năm 1873, Shanks đă
cho ra 709 con số thập phân tính bằng tay, nhưng sau này
người ta biết chỉ có 527 con số thập phân
đầu tiên trong số đó là chính xác. Cũng dựa
vào phương pháp này, Shanks đă biết rằng Pi
là số vô tỷ. Tiếp đó không bao lâu, nhà toán học
Lindeman người Đức đă chứng minh rằng
Pi là con số siêu việt v́́ nó không phải là nghiệm
của bất kỳ biểu thức hay phương tŕnh
đại số toán học có thể giải ra nó. Linderman
đă chỉ ra rằng không thể nào khai căn bâc hai của
một đường tṛn bằng phương pháp đại
số! Sự tiếp diễn tính những con số thập
phân của Pi đă thực hiện bởi nhiều các nhà
toán học khác. Đến năm 1949, lần đầu
tiên người ta dùng máy tính và tính được giá trị
Pi chính xác tới 2000 số. Từ đó mỗi năm
theo sự phát triển về tốc độ và sức mạnh
của máy điện toán, người ta lại đạt
một kỷ lục tính số thập phân của Pi lên tới
trăm ngh́n con số rồi đến triệu và tỷ
con số. Trung tuần tháng 12 năm 2002, nhóm tin học
do giáo sư Kanada người Nhật làm trưởng
nhóm, đă dùng nhiều máy tính hiện đại nối xen
kẽ đă tính được tới 1,24 tỷ tỷ con
số thập phân của Pi một cách chính xác. Công thức
Machin mà giáo sư Kanada và nhóm tin học đă dùng
để tính là:
![]()
Ta để ư các cơ số của hàm ngược
ở biểu thức trên là 48,
128, 239 và 110445 rất lớn. Khi áp dụng công thức
Leibniz th́ mức hội tụ của chuỗi số
về Pi càng nhanh và chính xác.
Có rất nhiều công thức ở dạng Machin được
khám phá. Tất cả các phương pháp tính Pi từ ba thế
kỷ trước đây đến năm 2002 đều
sử dụng các dạng công thức Machin và kết hợp
với công thức do Leibniz t́m ra. Vào năm 1997, một
công thức khác có tên gọi là BBP dùng để tính số
thập phân của Pi đă đuợc ba nhà toán học
Canada tên David Bailey, Peter Borwein và Simon Plouffe sử
dụng một dạng thuật toán algorithm riêng gọi
là PSLQ và kết hợp với máy tính đă khám phá ra:
(BBP)
Chữ BBP là phần viết tắt tên họ của
ba người vừa nói trên. Thuật toán PSLQ được
dùng để t́m sự liên hệ của các số nguyên nằm
giữa các số thực
trong đó nó phải thỏa măn
phương tŕnh
với
các số nguyên
không cùng một lúc bằng
0. Điểm cốt lơi của công thức BBP ở
trên là khi tính số thập phân của Pi ở dạng nhị
phân hay ở hex (cơ sở 16) th́ không cần phải cộng
hay trừ các số đă tính được trước
đó cho mỗi bước xê dịch của k đang tiến
từ 1 tới một số lớn hay vô cực. Hay
nói nôm na là ta không cần nhớ các số đă đuợc
tính trước đó cho mỗi giá trị của k, như
vậy đỡ phải lưu chúng trong bộ nhớ
trong suốt tiến tŕnh tính toán. Điều đó có
nghĩa rằng ta không cần phải trang bị máy điện
toán cực mạnh và không cần kết hợp với nhiều
máy tính khác như đă làm trước đó. Sở dĩ
công thức BBP có được tính chất vừa nêu trên
là v́ cơ số 16 lũy thừa k đă cho các số hạng
trong biểu thức cùng đồng bộ nhỏ và hội
tụ rất nhanh khi giá trị k tiến từ 1 lên các số
lớn. Đây là phương sách hay nhất để
tính giá trị số thập phân của Pi (ở dạng
cơ sở 16 hay nhị phân) có từ trước đến
giờ. Nhưng thế giới mà con người đọc
và hiểu về Pi hay những con số khác là những con
số thuộc số thực hay dạng thập phân
(decimal) có cơ số 10 chứ không phải ở dạng
nhị nguyên, số mà chỉ có máy tính mới hiểu.
Thí dụ con số Pi ở dạng cơ sở 16 có giá trị
là 3.243F6A8885A308D313… (giá trị tương
đương theo cơ sở 10: A là 10, B là 11, C là 12, D là
13, E là 14 và F là 15). Như vậy qua công thức BBP,
số Pi ở dạng hex đă được tính tới
hàng tỷ con số nhưng làm sao để “chuyển kiểu”
những chuỗi số từ dạng cơ sở 16 để
thành dạng hệ thập phân (cơ sở 10) khi mà
chưa biết hết toàn bộ chuỗi của Pi đang
ở dạng hex trước đó? Người ta dễ
dàng chuyển những số từ dạng cơ sở 16
sang dạng nhị phân nhưng khi chuyển hàng tỷ con số
từ dạng cơ sở 16 hay nhị phân sang dạng
cơ sở 10 th́ vẫn c̣n nan giải. Cho đến
nay những công thức BBP cho Pi ở dạng cơ sở
10 đang được lùng kiếm và vẫn chưa biết
là dạng này có tồn tại hay không.
Ngay sau khi công thức BBP được khám phá và được công bố trên Nguyệt san toán học, các nhà toán học trên thế giới cũng t́m ra thêm các dạng công thức khác tương tự như công thức BBP để tính các hằng số toán học khác như log2, log3, Pi b́nh phương, căn bậc hai của ba nhân Pi và vân vân.
Công thức dưới đây, cũng thuộc dạng BBP,
dùng để tính Pi đă được t́m thấy tại
website http://www.seriesmathstudy.com/ đăng
ngày 29 tháng 5 năm 2006:
![]()
Và
.
Hai công thức ở trên có cơ số khá lớn, ấy là 4096 lũy thừa k, chắc chắn sẽ làm cho việc t́m số thập phân của Pi nhanh hơn nhiều khi giá trị k được xê dịch đi một đơn vị về phía số lớn hay tiến đến một số lớn nhất nào đó về phía vô cực mà máy tính có cơ chế thực hiện được.
Những năm gần đây người ta c̣n t́m thấy một số công thức chuỗi liên quan tới Pi, được nhà toán học Ramanujan [2*] khám phá ra năm 1910, như sau:
![]()
Công thức trên, có mẫu số chứa k giai thừa lũy thừa bốn lớn hơn so với giai thừa ở tử số và c̣n có cơ số 396 lũy thừa 4k, đă làm cho chuỗi số này hội tụ nhanh khủng khiếp. Bill Gosper đă dùng công thức này tính được 17 triệu số thập phân của Pi vào năm 1985. Cứ mỗi bước xê dịch của k từ số nhỏ tới số lớn, Gosper tính được tám con số thập phân chính xác của Pi. Cũng vào thời điểm này, David và Gregory Chudnovsky t́m ra công thức chuỗi có dạng của Ramanujan được miêu tả ở dưới đây:
![]()
Trong công thức chuỗi này, mỗi bước xê dịch của k cho chính xác tới mười bốn con số thập phân của Pi. David và Gregory sử dụng công thức trên cùng với lối kỹ thuật áp dụng cho số cực lớn đă tính được bốn tỷ số thập phân của Pi - lập kỷ lục năm 1996.
Mặc dù số thập phân của Pi đă được biết hàng tỷ con số, trong thực tế khi áp dụng người ta chỉ dùng khoảng năm chục con số cũng đủ khá chính xác cho việc tính toán những số lớn có liên quan tới Pi. Thí dụ như khi đo lường chu vi trương nở của vũ trụ có bán kính 10 lũy thừa 25, người ta phải dùng gần bốn mươi con số thập phân của Pi th́ mới đo được sự chính xác với sự sai số rất nhỏ. Khi nh́n vào dăy thập phân của Pi, ta tưởng chừng nó như là những con số hỗn độn. Nhưng nó được tính toán từ biểu thức đại số toán học, hiển nhiên những con số lẻ đó không phải là số ngẫu nhiên, mà là những con số nằm trong chuỗi số có cấu trúc bí hiểm! Một số nhà toán học lại “máy móc” muốn t́m kiếm một dăy số có dạng số thứ tự “0123456789” liệu nó có tồn tại trong hàng tỷ con số thập phân đó không? Thật vậy, năm 1997 lần đầu tiên họ t́m thấy duy nhất một dăy số liên tiếp từ 0 tới 9 này nằm sau con số lẻ thứ 17.387.594.880.
Những con số thập phân của Pi có nằm trong một quy luật trật tự nào không hay nó chỉ là một mớ chuỗi số hỗn độn? Câu hỏi được đưa ra dường như là sự trêu chọc có chủ ư, hay là sự thách đố để cổ vũ con người tiếp tục lao vào t́m kiếm điều bí ẩn những số lẻ của hằng số Pi mà nó ẩn ḿnh trong một hay nhiều cấu trúc thiên nhiên nào đó và đang chờ được khám phá...
Ngày 19 tháng 11 năm 2006
T.V.
Tải bài này hangsopi.pdf
Thượng Đế tạo ra các con số, phần c̣n lại do con người (Leopold Kronecker, 1823-1891)
Đọc thêm bài công thức tính số
thập phân của ln2
[1*] Kư hiệu này
được nhà toán Leonahard Euler, người Thụy
Sĩ, dùng đầu tiên vào năm 1737.
[2*] Srinivas Ramanujan (22/12/1887 - 26/04/1920), người
Ấn Độ, một kỳ tài trong toán học khó thấy
từ cổ chí kim, trong thời gian rất ngắn đă tự
khám phá và hoàn tất gần 3900 định lư và công thức
liên quan tới các lănh vực lư thuyết số, chuỗi số
hội tụ, vi phân bất định, và một số
hàm đặc biệt trong toán học. Hầu hết
trong các công thức ông khám phá, người ta không thấy
ông để lại "dấu tích" chứng minh
trong các cuốn sổ tay nhỏ của ông để lại
sau khi mất ở tuổi 32. Ngày nay, một số
giáo sư trong các trường đại học đang vất
vả "cập nhật" rất ít phần chứng
minh về các công thức cũng như định lư của
ông v́ hầu hết chúng đều thuộc loại rất
khó chứng minh! Ví dụ một số công thức chuỗi
hội tụ mô tả ở trên đă được máy
điện toán cực siêu trợ giúp và dựa vào một số
thuật toán mới "chứng minh" ra được
kết quả. Đây cũng là ngành toán học thực
nghiệm vừa mới h́nh thành khoảng chừng hơn
hai thập niên - một hứa hẹn giúp các nhà toán học
t́m kiếm các công thức trong tương lai. Một số
người chuyên nghiên cứu về những công thức
và định lư của Ramanujan tiên đoán thế giới
phải đợi đến vài thập niên nữa hay cả
thế kỷ nữa để "tiếp thu" phần
tinh túy đó.
Tài Liệu Tham Khảo
1. Essays and Surveys, Bruce C. Berndt and Robert Rankin, AMS-LMS History of
Mathematics, vol. 22, 2001.
2. History and Computation, Jonathan M. Borwein, FRSC, Prepared for Australian
Colloquia, 2003.
Mọi ư kiến xây dựng và bài vở xin liên lạc dothi@seriesmathstudy.com.
Trở về vietgraph.seriesmathstudy
Copyright 2005-2007 http://vietgraph.seriesmathstudy.com. All
rights reserved. Contact
us.
Ghi rơ nguồn "http://vietgraph.seriesmathstudy.com" khi bạn
đăng lại thông tin từ website này.